Free Essay

Độc Tố Hiv

In:

Submitted By yenlun122
Words 7669
Pages 31
HIV/AIDS là gì? - HIV (Human immuno-deficiency virus) là virus gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch ở người (AIDS), tồn tại trong máu và các dịch khác của cơ thể như tinh dịch, dịch âm đạo... - AIDS (Acquired Immuno Deficiency Syndrome) – Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải, là một hội chứng của nhiều bệnh nhiễm trùng (ví dụ: lao, viêm phổi, nấm), mà người nhiễm virus HIV gặp phải do hệ miễn dịch của cơ thể bị tổn thương hoặc bị phá hủy nặng nề. Các bệnh này được gọi là các bệnh nhiễm trùng cơ hội. AIDS được coi là giai đoạn cuối của quá trình nhiễm HIV. I. Thực trạng HIV/AIDS trên thế giới và ở Việt Nam 1. Trên thế giới - Lịch sử >> 5/6/1981 ghi nhận những trường hợp viêm phổi do pneumocystis Carinii ở nam thanh niên đồng tính. Thời diểm này ghi nhận thêm 5 trường hợp tương tự và 26 trường hợp ung thư kaposi sacroma. Đây là những bệnh thường gặp ở đối tượng suy giảm miễn dịch. Và tất cả những trường hợp này đều xảy ra ở đàn ông do quan hệ tình dục đồng giới >> 1982: AIDS được đặt tên cho bệnh suy giảm miễn dịch này thay thế cho cái tên GRID (Gay related Immune Deficiency) trước đó. >> 1983: siêu vi HIV được tìm ra và được chứng minh là tác nhân gây AIDS. Thời điểm này, dịch bệnh HIV/AIDS xuất hiện ở người hoạt động tình dục dị tính ở Châu Phi >> 1985: Thử nghiệm đầu tiên tìm kháng thể HIV. >> 1988: thuốc trị bệnh AIDS đầu tiên Zidovudine được sử dụng tại Mỹ >> 2003: WHO và UNAIDS đặt kế hoạch phát thuốc HIV cho 3 triệu người khó khăn kinh tế trên thế giới - Năm 2008: số người nhiễm HIV/AIDS đang sống trên thế giới đạt 33,4 triệu người, số người chết do AIDS là khoảng 2 triệu người. - Từ năm 1981đến nay đã có khoảng 60 triệu người trên hành tinh đã nhiễm HIV, trong đó có khoảng 25 triệu người đã chết do các bệnh có liên quan đến AIDS. - Trong tổng số người lớn (15 - 49 tuổi) nhiễm HIV còn sống trên thế giới đến cuối năm 2008 có khoảng 40% là những người trẻ tuổi và 50% là phụ nữ. - Nhìn chung, đến năm 2008, dịch HIV đã bị hạn chế ở mức ổn định tại nhiều khu vực trên thế giới, tuy nhiên tỷ lệ hiện nhiễm HIV vẫn tiếp tục gia tăng ở một số khu vực khác như Đông Âu, Trung Á và một số vùng của châu Á do tỷ lệ mới nhiễm HIV còn ở mức cao. 2. Ở Việt Nam Theo thống kê của bộ Y tế, trong tháng 8/2012, trên phạm vi toàn quốc đã phát hiện thêm 946 trường hợp nhiễm HIV. Như vậy, tổng số người nhiễm HIV của cả nước tính đến giữa tháng 8/2012 là gần 259.000 người, trong đó 105.600 trường hợp đã chuyển sang giai đoạn AIDS và gần 54.000 người đã tử vong do AIDS. Theo số liệu thống kê của Cục phòng chống HIV/AIDS, đến nay cả nước đã phát hiện người nhiễm HIV tại 78% xã, phường và 98% quận, huyện của 63/63 tỉnh, thành phố. Trong số những người nhiễm HIV thì nam giới chiếm tỉ lệ cao (gần 69%), nữ giới chiếm 31% số người nhiễm HIV. Theo các chuyên gia dịch tễ, số người nhiễm HIV tập chủ yếu ở nhóm tuổi từ 20 – 39 tuổi và tỉ lệ này hầu như không thay đổi nhiều trong khoảng 5 năm trở lại đây. Đặc biệt, tỉ lệ nhiễm HIV trong đọ tuổi từ 30 – 39 đang có xu hướng gia tăng. Nếu năm 2011 các đối tượng trên chiếm tỉ lệ 43% thì đến đầu năm 2012 đã tăng lên gần 47%. Hiện nay, con đường lây truyền HIV qua đường tình dục vẫn tiếp tục chiếm tỉ lệ lớn nhất, gần 46%; tiếp đến là tỉ lệ người nhiễm HIV lây truyền qua đường máu và lây truyền từ mẹ sang con. Kết quả giám sát đã phát hiện tỉ lệ người nhiễm HIV được phát hiện chủ yếu là người nghiện ma túy. II. Virus HIV 1. Đặc điểm, hình thái [pic] - Kích thước của HIV vô cùng nhỏ bé, chỉ vào khoảng từ 80 – 120 nanomet (01 nanomet chỉ nhỏ bằng 01 phần tỷ mét). Do vậy ta chỉ có thể nhìn thấy nó dưới kính hiển vi điện tử phóng đại hàng triệu lần. Nhờ kích thước nhỏ bé này HIV có thể xâm nhập vào cơ thể thông qua các vết xây xước rất nhỏ và có thể qua cả niêm mạc. Khả năng biến đổi của HIV rất lớn nên hiện nay trên thế giới có nhiều chủng, loại HIV khác nhau. Thậm chí trong quá trình điều trị bằng các thuốc kháng vi rút (ARV) hiện nay HIV có thể biến đổi, trở nên kháng thuốc và các vi rút mới kháng thuốc này cũng lây truyền từ người này sang người khác. Đây là khó khăn lớn nhất đối với việc nghiên cứu chế tạo vắc xin chống HIV cũng như thuốc điều trị AIDS. - Bề mặt của HIV có rất nhiều gai nhú giống như hình sau. Các gai nhú này giúp nó dễ dàng bám và đột nhập rất nhanh vào các tế bào bạch cầu – những tế bào vốn có chức năng bảo vệ cơ thể chống lại bệnh tật. Các đặc điểm trên của HIV là cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu, chế tạo thuốc điều trị AIDS và vắc xin dự phòng lây nhiễm HIV. 2. Cấu tạo Virus HIV có hệ gen là ARN, cấu trúc sợi đơn, mạch thẳng và có enzym phiên mã ngược, thuộc nhóm Retrovirus. [pic] [pic] -Vỏ ngoài là một lớp màng lipit kép, và protein xuyên màng có bản chất glycoprotein trọng lượng phân tử 41kD (gp41). Ngoài màng là glycoprotein gp120. gp120 và gp41 gắn bới nhau tạo thành các phân tử gp160. -Vỏ protein: có dạng hình cầu gồm các phân tử protein có trọng lượng phân tử 18Kd, p18. -Lõi có dạng hình trụ được bao bọc bằng một lớp protein p24. Trong lõi có hai sợi ARN đơn, có enzym phiên mã ngược và một số phân tử protein phân tử lượng nhỏ.trong mỗi sợi ARN của virus này số 3 gen cấu trúc là gen GAG- gen mã hoá cho các protein trong của virus: gen pol mã hoá cho các enzyme phiên mã ngược và gen env mã hoá cho protein bao ngoài của virus gp 120. 3. Phân loại HIV thuộc nhóm Lentivirus, và giống như mọi virus thuộc typ này, nó tấn công hệ miễn dịch. Lentivirus lại thuộc vào 1 nhóm virus lớn hơn gọi là Retrovirus. Lentivirus có nghĩa là virus chậm cần có nhiều thời gian để tác dụng có hại cho cơ thể. Nhóm virus này gặp ở nhiều loài động vật khác nhau, như mèo, cừu, ngựa và trâu bò. Tuy nhiên typ Lentivirus mà ta quan tâm khi nghiên cứu nguồn gốc của HIV là SIV(Simian Immunodeficiency Virus) gây bệnh ở loài khỉ. HIV là 1 virus có tính thay đổi cao, đột biến dễ dàng. Điều này có nghĩa là ngay trong cơ thể của 1 người bị nhiễm cũng có nhiều chủng HIV. Dựa trên những điểm tương tự về di truyền ta có thể phân loại vô số các chủng virus khác nhau đó thành typ, nhóm và phân typ . Hai loại HIV đã được định rõ đặc điểm: HIV-1 và HIV-2. HIV-1 là loại virus ban đầu được phát hiện và đặt tên là LAV và HTLV-III. HIV-1 độc hơn HIV-2, và là nguyên nhân của phần lớn các ca nhiễm HIV trên toàn cầu. HIV-2 có khả năng lây nhiễm thấp hơn HIV-1 cho nên nó chỉ hạn chế ở Tây Phi. Cả 2 typ đều lây truyền qua quan hệ tình dục qua đường máu và từ mẹ sang con. Cả 2 typ này dường như lây bệnh cảnh lâm sàng AIDS khá giống nhau khó phân biệt. Tuy nhiên, HIV-2 không dễ lây như HIV-1 và thời gian kể từ lúc bắt đầu nhiễm cho tới khi xuất hiện bệnh dài hơn trường hợp HIV-2. - Phân nhóm HIV Trên toàn thế giới, HIV-1 là nhóm gây đại dịch AIDS, và khi nói nhiễm HIV mà không kèm theo typ tức là đang nói đến HIV-1. HIV-2 ít gặp, chủ yếu khu trú tại Tây Phi, ít khi thấy ở nơi khác. HIV-2 có 8 nhóm phụ từ A đến H. [pic] Các chủng HIV-1 có thể được phân thành 3 nhóm: nhóm M (major = chính), nhóm O (outlier = ngoài rìa) và nhóm N (new = mới hoặc non-M non-O). 3 nhóm này đại diện cho 3 đợt du nhập riêng rẽ của virus SIV gây suy giảm miễn dịch của khỉ sang người. Nhóm O dường như chỉ khu trú tại vùng Tây Phi, còn nhóm N cực kỳ hiếm, chỉ mới được phát hiện năm 1998 tại Cameroon. Trên 90% các trường hợp nhiễm HIV-1 đều thuộc nhóm M. Trong HIV-1 nhóm M có ít nhất là 9 phân typ (subtype hoặc clade). Những phân typ đó là A, B, C, D, E, F, G, H, J, K. Đôi khi 2 virus thuộc 2 phân typ khác nhau nhưng cùng hiện diện trong tế bào của người nhiễm và chúng hòa trộn các chất liệu di truyền để tạo thành 1 virus lai (hybrid) mới. Đây là một tiến trình tương tự như sinh sản hữu tính, cho nên đôi khi còn được gọi là sự giao phối của virus (viral sex). Nhiều virus thuộc chủng mới này không sống sót lâu được, nhưng những chủng nào gây nhiễm được cho người khác sẽ được gọi là CRFs (circulating recombinant forms = các thể tái tổ hợp lưu thong). Ví dụ, CRF A/B là sự kết hợp của các phân typ A và B. hiện nay đã phát hiện có đến 30 CRF. Dưới đây là phân bố tình hình nhiễm HIV theo typ và phân typ của HIV-1 và HIV-2 ( ước tính đến tháng 12/2004)
|HIV theo nhóm hoặc phân typ |Số ca nhiễm (% tính theo tổng số mắc) |
|HIV-1 | |
|Nhóm M |45.000.000 (99,6) |
|Nhóm O |100.000 (0,22) |
|Nhóm N |6 (0,000013) |
|HIV-2 | |
|Phân typ A |50.000 (0,11) |
|Phân typ B |25.000 (0,06) |
|Phân typ C |1 (0,0000002) |
|Phân typ D |1 (0,0000002) |
|Phân typ E |1 (0,0000002) |
|Phân typ F |1 (0,0000002) |
|Phân typ G |1 (0,0000002) |

Bảng so sánh giữa các loài HIV
|Loài |Độc lực |Khả năng lây truyền |Mức độ lây lan |Nguồn gốc (suy đoán) |
|HIV-1 |Cao |Cao |Toàn cầu |Tinh tinh thông thường |
|HIV-2 |Thấp hơn |Thấp |Tây Phi |Khỉ Sooty, Mangabey |

4. Vòng đời của virus HIV Để cho virus tái sinh, chúng phải lây nhiễm vào một tế bào và sử dụng nó để tạo ra những virus mới. Giống như là cơ thể của chúng ta liên tục tạo ra những tế bào da mới hoặc những tế bào máu mới, mỗi một tế bào thường tạo ra những protein mới để sống và tự nó tái sinh. Những con virus giấu DNA của chúng trong DNA của tế bào và sau đó khi tế bào cố gắng tạo ra các protein mới thì nó cũng ngẫu nhiên tạo ra các con virus mới. Virus HIV hầu như lây nhiễm vào các tế bào trong hệ miễn dịch. ← Sự lây nhiễm: một số loài khác nhau có các protein trên bề mặt của nó, gọi là các thụ thể CD4, bởi vì protein đặc biệt này có khả năng làm cho virus kết hợp với tế bào mặc dù HIV lây nhiễm một loạt các tế bào nhưng mục tiêu chính của nó vẫn là tế bào lympho T4 (còn được gọi là tế bào trợ giúp T), một loại tế bào bạch cầu có nhiều thụ thể CD4. Tế bào lymphoT4 có trách nhiệm cảnh báo cho hệ miễn dịch của bạn rằng đang có kẻ xâm lược trong cơ thể. ← Sự tái tạo: mỗi khi virus HIV kết hợp được với một tế bào nó giấu DNA của nó vào bên trong DNA của tế bào điều này biến tế bào vô tình trở thành một nhà máy sản xuất HIV. Dưới đây là một số bước trong vòng đời của virus HIV 1. Virus luân chuyển tự do trong cơ thể 2. HIV tấn công vào một tế bào 3. HIV làm rỗng tế bào (lây nhiễm tế bào) 4. Sử dụng enzyme sao chép ngược biến đổi mã gen của virus HIV là RNA thành DNA 5. Enzyme integrase đã giúp cho DNA của virus HIV được hình thành trong DNA của tế bào bị nhiễm 6. Khi tế bào bị nhiễm tái sinh, nó kích hoạt DNA của virus HIV, cái mà làm nguyên liệu thô cho những virus HIV mới. 7. Các gói nguyên liệu cho việc hình thành các tế bào mới xuất hiện 8. Các virus non chui ra khỏi tế bào nhiễm trong một quá trình gọi là “quá trình sinh sôi” 9. Các virus chưa trưởng thành ngăn cản sự hoạt động của tế bào bị nhiễm 10. Đối với một virus trưởng thành: các nguyên liệu thô được cắt bởi enzyme protease và được tổng hợp thành một virus đầy đủ chức năng. III. Cơ chế hoạt động của virus HIV Bước 1: Gắn kết Một virus bao gồm 1 vỏ bọc protein, chất béo, đường ở bên ngoài bao phủ một bộ gen (trong trường hợp của HIV, thông tin gen được mang theo là RNA thay vì là DNA) và những enzyme đặc biệt. HIV có các protein trên vỏ bọc, nó cuốn hút mạnh mẽ thụ thể CD4+ ở bên ngoài tế bào lympho T4. Khi HIV kết hợp với 1 thụ thể CD4+, nó kích hoạt các protein khác trên bề mặt của tế bào, cho phép vỏ bọc HIV làm ngừng hoạt động ở bên ngoài của tế bào. Bước 2: Sao chép ngược Các gen của virus HIV đưa vào 2 sợi của RNA, trong khi nguyên liệu gen của tế bào người đươc tìm thấy ở trong DNA. Để virus có thể lây nhiễm vào tế bào, 1 quá trình được gọi là “sao chép ngược” tạo ra 1 phiên bản DNA của RNA của virus. Sau quá trình kết hợp, nhân của virus được đưa vào trong tế bào chủ. Một enzyme virus gọi là sao chép ngược tạo ra 1 phiên bản DNA của RNA. DNA mới này được gọi là DNA tiềm virus. Bước 3: Sự hoà nhập DNA của virus sau đó được đưa vào trong nhân của tế bào, đó là nơi cất giữ DNA của tế bào. Sau đó 1 enzyme virus khác được gọi là men tổng hợp”integrase” dấu DNA tiềm virus vào trong DNA của tế bào. Sau đó khi tế bào cố gắng tạo ra các protein mới thì nó ngẫu nhiên tạo ra các con virus HIV mới. Bước 4: Sự sao chép Mỗi khi nguyên liệu gen của virus được đặt vào bên trong nhân của tế bào, nó điều khiển tế bào sản xuất ra virus HIV mới. Những sợi DNA đã nhiễm virus trong nhân riêng và các enzyme đặc biệt tạo ra 1 sợi nguyên liệu gen bổ sung được gọi là sứ giả RNA hay mRNA (chỉ thị để tạo ra virus mới). Bước 5: Sự biến đổi mRNA đưa chỉ thị tạo ra các protein nhiễm mới từ nhân tế bào tới 1 loại phân xưởng trong tế bào. Mỗi một phần của mRNA tương ứng với 1 khối protein có sẵn để tạo ra 1 phần của virus khi mỗi một sợi mRNA được xử lý thì 1 chuỗi các protein tương ứng cũng được tạo ra. Quá trình này tiếp tục cho đến khi sợi mRNA bị biến đổi hoặc “chuyển” tới các protein bị nhiễm mới cần để tạo ra những virus mới. Bước 6: Tổ hợp virus và trưởng thành Bước cuối cùng bắt đầu với sự tổ hợp của virus mới. Các chuỗi dài protein được cắt bởi 1 enzyme virus được gọi là protease thành các protein nhỏ hơn. Các protein này phục vụ 1 loạt các chức năng, 1 số trở thành các nguyên tố cấu trúc của virus mới, trong khi các số khác trở thành các enzyme, giống như là enzyme sao chép ngược mỗi khi các mảnh nhỏ virus mới được tổ hợp lại, chúng chui ra khỏi tế bào chủ và tạo ra 1 virus mới. Sau đó virus bước vào giai đoạn trưởng thành, nó liên quan đến chu trình của các protein virus. Trưởng thành là bước cuối cùng trong chu trình và là lúc virus trở thành có thể lây nhiễm. Với sự tổ hợp thành công và trưởng thành, virus có khả năng lây nhiễm cho 1 tế bào mới. Và mỗi 1 tế bào nhiễm mới có thể sản sinh ra nhiều virus mới.

|[pic] |[pic] |[pic] |
|[pic] |[pic] |[pic] |

III. Diễn biến tự nhiên của nhiễm HIV và biểu hiện lâm sàng Biểu hiện lâm sàng của nhiễm HIV rất thay đổi, khởi đầu là giai đoạn nhiễm trùng cấp, tiếp theo là giai đoạn không triệu chứng kéo dài trong nhiều năm, cuối cùng là giai đoạn AIDS với nhiều loại nhiễm trùng cơ hội và/hoặc bệnh ác tính (ung thư), đưa bệnh nhân dần dần đến chỗ tử vong. 1. Giai đoạn nhiễm HIV cấp tính Nhiễm HIV-1 cấp biểu hiện ở 40 – 90% các trường hợp như là một bệnh lý có triệu chứng thoáng qua, với sự nhân bản của HIV-1 ở mức độ cao và đáp ứng miễn dịch đặc hiệu với virus có xu hướng mở rộng. Nhiễm HIV cấp là một chẩn đoán phân biệt quan trọng ở những trường hợp sốt không rõ nguồn gốc, có ban dát, sẩn và hạch to. Nhiễm HIV thường xảy ra bằng cách đưa các chất dịch cơ thể từ người bị nhiễm bệnh vào cơ thể của một người không bị nhiễm bệnh. Giai đoạn virus nhân lên một cách nhanh chóng xảy ra ngay sau đó, dẫn đến có nhiều virus trong máu ngoại biên. Ở giai đoạn này, mức HIV có thể lên đến vài triệu hạt virus trong mỗi ml máu. Phản ứng này đi kèm với việc lưu lượng tế bào T-CD4+ bị giảm đáng kể. Trong tất cả các bệnh nhân, mức virus này thực tế là do sự hoạt hóa của các tế bào T-CD8+ đã giết chết những tế bào bị nhiễm HIV, sau đó sản sinh các kháng thể hoặc biến đổi huyết thanh. Phản ứng của tế bào T-CD8+ được cho là quan trọng trong việc kiểm soát mức virus từ mức cao trở thành suy giảm dần, và phục hồi số lượng tế bào T-CD4+. Phản ứng của tế bào T-CD8+ tốt sẽ làm tiến triển bệnh chậm hơn và việc dự đoán bệnh tốt hơn, mặc dù nó không thể loại trừ được virus. Trong thời gian này (thường là 2-4 tuần sau khi phơi nhiễm), hầu hết các bệnh nhân (80-90%) sẽ mắc bệnh cúm hoặc bệnh gần giống như bệnh bạch cầu đơn nhân, gọi chung là nhiễm HIV cấp tính, có thể với các triệu chứng phổ biến bao gồm sốt, nổi hạch, viêm họng, phát ban, đau cơ, khó chịu, lở miệng và thực quản, và ít phổ biến hơn còn có các triệu chứng như nhức đầu, buồn nôn và nôn, sưng gan/lá lách, giảm cân, bệnh tưa miệng, và các triệu chứng thần kinh. Từng cá thể bị nhiễm bệnh có thể có 1 hoặc vài triệu chứng này, cũng có trường hợp không xuất hiện bất cứ triệu chứng nào. Thời gian của các triệu chứng là khác nhau, trung bình kéo dài 28 ngày và ngắn nhất thường là một tuần. Do tính chất không rõ ràng của những triệu chứng này, cho nên bệnh nhân thường không nhận ra các dấu hiệu của nhiễm HIV. Ngay cả khi bệnh nhân đến bác sĩ hay bệnh viện, họ thường sẽ được chẩn đoán nhầm là bị một trong các bệnh nhiễm khuẩn thông thường với các triệu chứng tương tự. Hệ quả là, những triệu chứng tiên phát này không được sử dụng để chẩn đoán nhiễm HIV, vì không phải tất cả các trường hợp nhiễm HIV đều xuất hiện những triệu chứng này và phần lớn lại giống triệu chứng của các bệnh thông thường khác. Tuy nhiên, nhận biết hội chứng có thể quan trọng, bởi vì bệnh nhân có thể dễ lây bệnh cho nhiều người trong giai đoạn này. Phát ban: Các tổn thương dạng ban dát hoặc sẩn màu hồng kích thước 5 – 10 mm, thường xuất hiện trên mặt và thân nhưng cũng có thể xuất hiện ở trên các chi. Ban thường xuất hiện sau 48 – 72 giờ bệnh nhân bị sốt và có thể tồn tại trong 5 – 8 ngày. Ban thường là không ngứa. Loét miệng, thực quản, hậu môn hoặc cơ quan sinh dục có thể gặp với các đặc điêm: đau, nông, có bờ rõ. Ở những bệnh nhân tiêm chích ma túy thì sốt, phát ban, viêm họng và đau cơ là các triệu chứng ít gặp hơn, loét cơ quan sinh dục thường không gặp so với những bệnh nhân nhiễm HIV do quan hệ tình dục.

Biểu hiện lâm sàng
|1. Sốt (38 – 40°C) |50 – 96% |
|2. Sưng hạch |74% |
|3. Viêm họng không tiết dịch |70% |
|4. Phát ban |70% |
|5. Đau cơ khớp |54% |
|6. Tiêu chảy |32% |
|7. Đau đầu |32% |
|8. Buồn nôn và nôn |27% |
|9. Gan và lá lách to |14% |
|10. Sụt cân |13% |

[pic] 2. Giai đoạn không triệu chứng

Kéo dài 1-10 năm. Lúc này số lượng tế bào limpo TCD4 giảm dần. Sự bảo vệ mạnh mẽ của hệ miễn dịch sẽ làm giảm số lượng của các hạt virus trong máu, chuyển sang giai đoạn nhiễm HIV mạn tính. Giai đoạn này có thể kéo dài từ 2 tuần cho đến 20 năm tùy theo từng trường hợp. Trong suốt giai đoạn mạn tính, HIV hoạt động trong các hạch bạch huyết, làm cho các hạch này thường bị sưng do phản ứng với một số lượng lớn virus bị kẹt trong mạng lưới các tế bào tua hình nang (FDC). Các mô giàu tế bào CD4+ xung quanh cũng có thể bị nhiễm bệnh, các hạt virus tích tụ cả trong các tế bào bị nhiễm và ở dạng virus tự do. Trong giai đoạn này bệnh nhân vẫn có khả năng lây bệnh, tế bào T CD4+ CD45RO+ mang theo tải lượng virus nhiều nhất, và việc bắt đầu sớm điều trị kháng retrovirus sẽ cải thiện đáng kể thời gian sống.

Giai đoạn này, cơ thể gần như bình thường, không có biểu hiện triệu chứng. Lúc này bạch cầu chỉ bị tiêu diệt ít không đáng kể. Virus tiếp tục sinh sôi nẩy nở, nhìn bề ngoài không ai có thể biết được bệnh nhân đã bị nhiễm HIV, ngay cả chính bản thân người bệnh (nếu chưa xét nghiệm máu).

Bệnh nhân có thể khoẻ mạnh trong vòng 5 -10 năm trước khi triệu chứng của nhiễm HIV hoặc AIDS xuất hiện.

Giai đoạn AIDS (bệnh HIV tiến triển)

Triệu chứng liên quan đến nhiễm HIV có thể xuất hiện bất kì lúc nào trong quá trình nhiễm HIV, tuy nhiên các biến chứng nặng nguy hiểm thường xảy ra vào giai đoạn số lượng tế bào lympho T-CD4 < 200 tế bào/µL máu. Những bệnh này có thể là những bệnh nhiễm trùng cơ hội cũng có thể là bệnh ác tính (ung thư) thường gọi là những bệnh chỉ điểm của AIDS, vì các tác nhận gây bệnh này hiếm khi gây bệnh cho người miễn dịc bình thường. Khoảng 80% cái chết của bệnh nhân AIDS không phải do trực tiếp của HIV mà liên quan nhiều đến vi trùng. Bệnh cảnh AIDS có thay đổi, bệnh nhân có thể có thể sống lâu hơn nếu như được điều trị tốt và dự phòng tốt.

Khi số lượng các tế bào CD4+ giảm xuống dưới một mức 200 tế bào trên 1µL máu, sự miễn dịch qua trung gian tế bào bị vô hiệu và xuất hiện nhiễm trùng do một loạt các vi sinh vật cơ hội gây ra. Các triệu chứng đầu tiên thường bao gồm giảm cân vừa phải và không giải thích được, nhiễm trùng đường hô hấp tái phát (như viêm xoang, viêm phế quản,( viêm tai giữa, viêm họng), viêm tuyến tiền liệt, phát ban da, và loét miệng. Nhiễm trùng cơ hội và các khối u phổ biến ở người bình thường sẽ bị tế bào miễn dịch trung gian CD4+ khống chế sau đó chúng mới ảnh hưởng đến người bệnh. Đặc trưng của mất sức đề kháng là sẽ nhanh chóng bị nhiễm vi nấm Cadida species gây nên bệnh nấm miệng (còn gọi là đẹn trắng hay tưa miệng) hoặc nhiễm vi khuẩn hiếu khí Mycobacterium tuberculosis (MTB) gây bệnh lao. Sau đó, các virus herpes tiềm ẩn sẽ được kích hoạt gây tái phát ngày càng nặng hơn các tổn thương đau đớn phun trào do herpes simplex, bệnh zona, ung thư hạch bạch huyết do virus Epstein-Barr và ung thư Kaposi's sarcoma. Viêm phổi do nấm Pneumocystis jirovecii cũng phổ biến và thường gây tử vong. Trong giai đoạn cuối của AIDS, đáng chú ý là những bệnh nhiễm cytomegalovirus (một loại virus herpes) hoặc nhiễm Mycobacterium avium complex. Không phải tất cả các bệnh nhân AIDS đều bị tất cả các bệnh nhiễm trùng hoặc các khối u trên, nhưng có các loại khối u và các bệnh nhiễm trùng khác ít nổi bật hơn nhưng vẫn đáng kể. V. Các con đường lây truyền HIV 1. Lây truyền qua đường tình dục Phần lớn HIV lây qua đường quan hệ tình dục không được bảo vệ (quan hệ tình dục không an toàn). Việc chủ quan đối với HIV đóng một vai trò quan trọng trong nguy cơ bị lây bệnh. Lây truyền qua đường tình dục có thể xảy ra khi chất tiết sinh dục của một bạn tình có chứa virus, tiếp xúc với niêm mạc sinh dục, miệng, hoặc trực tràng của người còn lại. Ở các quốc gia có thu nhập cao, nguy cơ nữ lây truyền cho nam là 0.04% cho mỗi lần quan hệ và nam truyền cho nữ là 0.08%. Vì những lý do khác nhau, nguy cơ này cao hơn từ 4 đến 10 lần ở các nước có thu nhập thấp. Người nhận trong giao hợp qua đường hậu môn có nguy cơ bị lây nhiễm cao hơn nhiều, 1.7% cho mỗi lần quan hệ Các phân tích của các nghiên cứu năm 1999 về việc sử dụng bao cao su cho thấy rằng nếu sử dụng bao cao su đúng cách sẽ làm giảm nguy cơ lây truyền qua đường tình dục của HIV khoảng 85%. Những thử nghiệm đối chứng ngẫu nhiên, trong đó, nam giới chưa cắt bao quy đầu được phân ngẫu nhiên để được giải phẫu cắt bao quy đầu trong điều kiện vô trùng và được tư vấn đã được thực hiện tại Nam Phi, Kenyavà Uganda, kết quả cho thấy mức độ lây nhiễm HIV trong đường tình dục nữ truyền cho nam giảm xuống 60%, 53%, và 51%, tương ứng với từng quốc gia. Từ kết quả này, WHO và Ban Thư ký UNAIDSđã triệu tập một nhóm chuyên gia để "khuyến cáo rằng nam giới cắt bao quy đầu được công nhận như là một sự can thiệp bổ sung quan trọng để giảm nguy cơ lây nhiễm HIV trong quan hệ tình dục dị tính luyến ái đối với nam giới". Đối với trường quy đầu sẽ bảo vệ chống lại nhiễm HIV hoặc nhiễm những bệnh lây truyền qua đường tình dục khác. Các nghiên cứu về lây truyền HIV ở phụ nữ đã cắt bộ phận sinh dục (FGC) đã báo cáo các kết quả khác nhau, nhưng với một số bằng chứng cho rằng việc này làm tăng nguy cơ lây truyền. 2. Lây truyền qua đường máu Nói chung, nếu vết thương hở tiếp xúc với máu bị nhiễm HIV thì sẽ bị lây truyền. Các đối tượng dễ bị lây nhiễm qua đường máu là những người tiêm chích ma túy, những bệnh nhân mắc bệnh rối loạn đông máu di truyền (bệnh ưa chảy máu), người nhận trong quá trình truyền máu (mặc dù hầu hết ở các nước thì máu khi dùng để truyền đều được xét nghiệm HIV) và các sản phẩm máu. Lây truyền HIV qua đường máu cũng là vấn đề lo ngại đối với những người được chăm sóc y tế tại các khu vực có vệ sinh không đạt tiêu chuẩn thông thường trong việc sử dụng các dụng cụ tiêm chích, chẳng hạn như việc tái sử dụng kim tiêm ở các nước thế giới thứ ba. Nhân viên y tế như y tá, nhân viên phòng thí nghiệm, và các bác sĩ cũng là đối tượng rủi ro cao, mặc dù hiếm xảy ra hơn. Kể từ khi việc lây nhiễm HIV qua đường máu được phát hiện thì các nhân viên y tế cần thiết phải bảo vệ mình không tiếp xúc với máu bằng cách sử dụng các biện pháp dự phòng phổ quát. Trong quá trình xăm, xâu khuyên, và rạch da thì cả người thực hiện lẫn người được làm cũng đều dễ bị lây nhiễm HIV qua đường máu. HIV được tìm thấy với nồng độ thấp trong nước bọt, nước mắt, và nước tiểu của các cá nhân bị nhiễm bệnh, nhưng không có trường hợp nào bị lây nhiễm bởi những chất tiết này được ghi nhận và nguy cơ tiềm năng lây truyền là không đáng kể. Muỗi không thể truyền HIV. HIV có nhiều ở trong máu. Bơm kim tiêm dùng xong mà không tiệt trùng, hoặc tiệt trùng không tốt thì vẫn còn đọng máu (dù có thể không nhìn thấy). Do đó, nếu dùng chung bơm kim tiêm với một người mang HIV, bạn có thể nhiễm HIV. Nếu bạn mang HIV, bạn có thể truyền cho người khác theo đường ấy. Sở dĩ người tiêm chích ma túy có nguy cơ nhiễm HIV cao hơn người khác là do nhiều khi họ dùng chung bơm kim với bạn bè, hoặc dùng bơm kim của tụ điểm bán thuốc. Bất cứ khi nào cần tiêm, bạn hãy mua ở hiệu thuốc loại bơm kim dùng một lần hoặc bạn hãy mua một bộ bơm kim riêng, tiệt trùng trước và sau mỗi lần sử dụng. Bảo đảm an toàn bơm kim tiêm như vậy là rất cần thiết, vì ngoài HIV còn có nhiều bệnh khác cũng lây qua đường máu như viêm gan B, giang mai, sốt rét, viêm van tim… Riêng về ma túy, bản thân nó không sinh ra HIV. Nhưng nhiều người do nghiện nặng đã chuyển từ hút, hít sang tiêm chích và có những lần dùng chung bơm kim tiêm, vì thế có thể lây bệnh. 3. Từ mẹ truyền sang con Việc lây truyền virus từ mẹ sang con có thể xảy ra trong tử cung (trong thời kỳ mang thai), trong quá trình chuyển dạ (sinh con), hoặc thông qua việc cho con bú. Trong trường hợp không điều trị, tỷ lệ lây truyền giữa mẹ và con lên đến khoảng 25%. Tuy nhiên, với sự kết hợp điều trị bằng thuốc kháng virus và mổ lấy thai thì nguy cơ này có thể được giảm xuống thấp khoảng 1%. Sau khi sinh thì có thể ngăn ngừa lây truyền bằng cách tránh hoàn toàn nuôi con bằng sữa mẹ, tuy nhiên, điều này liên quan đáng kể đến các bệnh khác. Cho con bú hoàn toàn bằng sữa mẹ và cung cấp điều trị dự phòng kháng virus mở rộng cho trẻ sơ sinh cũng có hiệu quả trong việc tránh lây truyền. UNAIDS ước tính có 430.000 trẻ em bị nhiễm HIV trên toàn thế giới trong năm 2008 (19% là các ca nhiễm mới), chủ yếu là từ đường mẹ sang con, và thêm 65.000 ca lây nhiễm đã được ngăn chặn thông qua việc cung cấp điều trị dự phòng kháng virus cho phụ nữ nhiễm HIV dương tính. Cứ một trăm phụ nữ nhiễm HIV sinh con thì khoảng 25-30 trẻ bị nhiễm. HIV có thể lây sang bé qua rau thai khi bé ở trong bụng mẹ, qua máu và chất dịch của mẹ khi sinh, hoặc qua sữa mẹ khi mẹ cho con bú. Trẻ sơ sinh nhiễm HIV thường không sống được quá ba năm. Có ý kiến cho rằng để phòng tránh điều này, phụ nữ không nên sinh con, song điều đó rõ ràng là không phù hợp với cuộc sống con người. Người phụ nữ nhiễm HIV cũng như bất cứ ai khác, có nhu cầu làm mẹ, đó là chưa kể mong muốn của người chồng và những người thân khác trong gia đình, hơn nữa, khả năng lây nhiễm không phải là 100%. Do đó, chính người phụ nữ cùng chồng mình là những người quyết định có sinh con hay không. Về sữa mẹ, lời khuyên chung là người mẹ dù nhiễm HIV vẫn nên cho con bú. Lý do là sữa mẹ có những kháng thể rất cần thiết để bảo vệ cuộc sống của bé. Nếu không được bú mẹ, bé dễ bị tiêu chảy hoặc suy dinh dưỡng, có thể nguy hiểm đến tính mạng. Do đó, cho bé bú mẹ vẫn an toàn hơn. HIV không lây truyền khi * Muỗi đốt Khi đốt bạn, muỗi tiết vào cơ thể bạn một ít nước bọt. Nhưng vì HIV không sinh sống trong cơ thể muỗi nên nước bọt này không chứa HIV, vì vậy bạn không thể lây nhiễm HIV được. Vòi muỗi rất tinh tế, cho phép muỗi lấy máu rất gọn gàng, không bao giờ máu của người bị đốt trước dính vào người bị đốt sau. Muỗi hoàn toàn vô can trong sự lan nhiễm HIV. * Hôn Bạn đừng quá hoang mang. Hôn nhìn chung không làm lây nhiễm HIV, bởi HIV trong nước bọt vô cùng ít, không truyền được. Chỉ khi hai người bị loét, xước trong miệng hoặc chảy máu răng mà hôn sâu thì mới có khả năng lây do tiếp xúc máu. * Tiếp xúc thông thường Tất cả các kiểu tiếp xúc thông thường như cùng ăn uống, mặc chung quần áo, ôm ấp, bơi chung bể bơi, ở cùng nhà, ngủ chung giường (tất nhiên là không quan hệ tình dục!), làm việc cùng cơ quan, dùng chung nhà vệ sinh, cắt tóc… không làm cho ai bị nhiễm HIV.

VI. Tác động của HIV tới con người - Ảnh hưởng về kinh tế: Số người nhiễm HIV chủ yếu ở lứa tuổi lao động. Khi nhiều người bị nhiễm HIV và bị chết vì AIDS sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế của từng gia đình, cộng đồng và của đất nước. Chi phí cho công tác phòng chống AIDS sẽ rất tốn kém - Ảnh hưởng về tâm lý xã hội: Mọi người sợ hãi dễ dẫn đến tình trạng phân biệt đối xử. Cuộc sống của gia đình có người bị nhiễm HIV hoặc bệnh AIDS sẽ trở nên căng thẳng, xuất hiện nhiều mâu thuẫn và dần tiến tới sự mất ổn định trong cuộc sống. - Ảnh hưởng nặng nề cho hệ thống y tế: Phần nhiều hệ thống y tế bị quá tải, phát sinh các nguy cơ lây nhiễm HIV trong môi trường y tế. Thuốc đặc trị không có nhưng vẫn phải tiến hành việc điều trị cho các bệnh nhân bị nhiễm HIV/AIDS dẫn đến chi phí cho điều trị lớn nhưng không đạt hiệu quả, bệnh nhân vẫn tử vong. - HIV làm giảm tuổi thọ trung bình. Tăng tỷ lệ chết sơ sinh, tỷ lệ chết mẹ..... làm nảy sinh các vấn đề về trẻ mồ côi, bảo tồn nòi giống. VII. Cách phòng tránh nhiễm HIV 1. Phòng nhiễm HIV lây qua đường tình dục ●Không quan hệ tình dục - là cách an toàn nhất bảo vệ bạn không những tránh khỏi nguy cơ lây nhiễm HIV/AIDS mà còn thể giúp bạn tránh lây nhiều bệnh khác. ● Thực hiện cuộc sống tình dục lành mạnh, chung thủy với 1 bạn tình duy nhất - là lá chắn ngăn chặn bệnh HIV và các bệnh khác. ● Thực hiện các hành vi tình dục an toàn hơn, áp dụng kiểu tình dục không thâm nhập. ● Luôn sử dụng bao cao su đúng cách khi quan hệ tình dục ●Tăng cường dịch vụ khám chữa bệnh lây qua đường tình dục có hiệu quả. 2. Phòng nhiễm HIV lây qua đường máu ● Đảm bảo truyền máu an toàn, sàng lọc người cho máu và sàng lọc các túi máu trước khi truyền. ● Chỉ truyền máu khi thật cần thiết. ● Thực hiện truyền máu tự thân hoặc truyền máu từng phần. ● Vận động hiến máu nhân đạo từ nhóm người có nguy cơ lây nhiễm thấp. ● Thực hiện vô trùng , tiệt trùng trong y tế là các dụng cụ lấy máu, các dụng cụ phẫu thuật, các dụng cụ hồi sức như các ống thông, ống dẫn lưu, ống nội khí quản, dụng cụ chữa răng... ● Áp dụng các biện pháp dự phòng trong môi trường chăm sóc như đeo găng tay khi có tiếp xúc với máu và dịch của người bệnh. ● Chuẩn đoán và điều trị sớm các bệnh có nguy cơ gây mất máu phải truyền máu . ● Sử dụng bơm kim tiêm 1 lần rồi bỏ đi. ● Không dùng chung bơm kim tiêm. ● Thực hiện vô trùng các dụng cụ xuyên trích qua da đúng phương pháp bằng cách : + Đun sôi 20 phút kể từ lúc sôi + Sát trùng bơm kim tiêm với dung dịch sát trùng. 3. Phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con ● Xét nghiệm sàng lọc HIV trước khi kết hôn, khi quyết định có thai, ● Người nhiễm HIV/AIDS không nên lập gia đình, ● Người nhiễm HIV/AIDS nếu lấy vợ, lấy chồng thì phải dùng bao cao su trong quan hệ tình dục để phòng có thai và liên kết HIV cho nhau. ● Người nhiễm HIV không nên có thai để tránh rủi ro sinh ra 1 đúa trẻ nhiễm HIV . Nếu muốn đẻ con thì người phụ nữ mang thai phải đến cơ sở sản khoa để được theo dõi, tư vấn và điều trị dự phòng nhằm giảm tỉ lệ lây truyền sang con. ● Sau khi sinh con, người mẹ nhiễm HIV không nên cho con bú sũa mẹ. Nếu không có khả năng nuôi trẻ bằng sữa thay thế, có thể cho trẻ bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu sau đó cai sữa và cho ăn dặm. VIII. Các hình thức điều trị HIV/AIDS Việc điều trị cho người nhiễm HIV/AIDS khá phức tạp và tốn kém nhưng chỉ giúp kéo dài sự sống chứ không chữa khỏi được bệnh. Gồm: 1. Điều trị bằng thuốc: - Thuốc chống virus: CÁc thuốc chống virus ức chế sự phát triển và nhân lên của HIV ở những giai đoạn khác nhau trong vòng đời của virus. Hiện có một số nhóm như: + Các chất ức chế men phiên mã ngược tương tự nucleosid (NRTI): đây là nhóm thuốc chống retrovirus đầu tiên được triển khai. Chúng ức chế sự sao chép của một enzym HIV là men phiên mã ngược. Nhóm thuốc này gồm zidovudine, lamivudine, didanosin, zalcitabine, stavudine và abacavir. Một thuốc mới hơn là emtricitabine phải được dùng phối hợp với ít nhất là 2 thuốc AIDS khác, điều trị cả HIV và viêm gan B. + Các chất ức chế protease (PI): Nhóm thuốc này cản trở sự nhân lên của HIV ở giai đoạn muộn hơn trong vòng đời của nó bằng cách tác động vào enzym protease của virus, khiến cho HIV bị rối loạn cấu trúc và không gây nhiễm. Các thuốc trong nhóm gồm saquinavir, ritonavir, indinavir, nelfinavir, amprenavir, lopinavir và atazanavir. + Các chất ức chế men phiên mã ngược phi nucleosid (NNRTI). Những thuốc này gắn trực tiếp với men phiên mã ngược, gồm các thuốc nevirapine, delavirdine và efavirenz. + Các chất ức chế men phiên mã ngược nucleotid (NtRTI). Những thuốc này hoạt động rất giống chất ức chế men phiên mã ngược tương tự nucleotid nhưng tác dụng nhanh hơn. Thuốc duy nhất trong nhóm này là tenofovir ức chế cả HIV và viêm gan B, tỏ ra có hiệu quả ở bệnh nhân kháng NRTI. + Các chất ức chế hoà nhập: không cho virus nhân lên bằng cách ngăn không cho màng virus hoà nhập với màng của tế bào khỏe mạnh. Thuốc đầu tiên trong nhóm này là enfuvirtide tỏ ra ức chế được ngay cả những chủng HIV kháng thuốc mạnh nhất. - Thuốc điều hoà miễn dịch: Giúp tăng cường hệ miễn dịch, như: Alpha-interferon, interleukin 2, Ioprinasine,... - Thuốc phòng ngừa và điều trị bệnh cơ hội: Nhiều thuốc được sử dụng có hiệu quả để phòng ngừa và điều trị một số bệnh cơ hội xuất hiện ở người nhiễm HIV/AIDS. 2. Trị liệu bổ sung: - Chế độ dinh dưỡng tốt, làm việc nghỉ ngơi điều độ. - Liệu pháp vitamin, liệu pháp vi lượng và châm cứu,...

Hiện nay trên các phương tiện truyền thông đều nói đến thuốc điều trị HIV giá rẻ. Đây là loại điều trị đặc hiệu dành cho những người có HIV nhiều năm sắp chuyển sang giai đoạn AIDS. Ngoài loại điều trị này ra, người có HIV còn có các loại điều trị khác, tùy thuộc vào tình trạng sức khoẻ hay ở giai đoạn nào của bệnh như: 1/ Điều trị phơi nhiễm: khi có nguy cơ bị lây nhiễm do các vật nhọn đâm gây rách da có chảy máu hay bị dịch tiết, máu bắn vào mắt (nhân viện y tế) hay có quan hệ tình dục không an toàn.... Thời gian điều trị tốt nhất là ngay từ những giờ đầu tiên (2-3 giờ sau tai nạn) và muộn nhất không quá 7 ngày. Tùy theo mức độ phơi nhiễm, có thể phối hợp 2 hay 3 loại thuốc thuốc kháng virus trong vòng 01 tháng. Việc điều trị này được coi như một trường hợp cấp cứu tại bệnh viện Bệnh Nhiết Đới, áp dụng cho mọi đối tượng.. 2/ Điều trị phòng ngừa lây nhiễm từ mẹ sang con: dành cho thai phụ và trẻ mới sinh. Nếu phát hiện sớm lúc mang thai, người mẹ sẽ được điều trị ngắn hạn với hai loại thuốc Zidovudine (AZT)/Lamivudine (3TC) từ tuần thứ 34 của thai kỳ. Cách điều trị này sẽ giảm tỷ lệ lây truyền từ mẹ sang con từ 30% xuống còn 3 – 5%. Nếu phát hiện muộn vào lúc sanh, thai phụ sẽ được uống một liều Nevirapine duy nhất, muộn nhất là 4 giờ trước khi sanh. Cách này sẽ giảm tỷ lệ lây truyền từ mẹ sang con xuống còn 10 – 13%. Dù mẹ được chọn lựa cách nào thì con của họ cũng được uống một liều sirop Nevirapine 2mg/kg cân nặng trong vòng 48 giờ sau khi sinh. 3/ Điều trị hỗ trợ: không dùng thuốc mà bằng các biện pháp hỗ trợ khác như dinh dưỡng, thể dục, lối sống lành mạnh ... Áp dụng cho người có HIV ở giai đoạn không triệu chứng. 4/ Điều trị nhiễm trùng cơ hội: Vào giai đoạn cận AIDS các nhiễm trùng cơ hội bắt đầu xuất hiện như nấm miệng, tiêu chảy, sốt, viêm phổi, lao ... Tùy theo loại nhiễm trùng cơ hội, người bệnh sẽ được điều trị tại các chuyên khoa như lao, da liễu ... 5/ Điều trị cho trẻ em có HIV: Bao gồm: - Trẻ nhiễm HIV có triệu chứng lâm sàng theo phân loại A,B,C - Trẻ có HIV có suy giảm miễn dịch theo phân loại 2, 3 (phân loại dựa vào lympho CD4) - Trẻ sinh ra từ mẹ có HIV(+) trong 6 tuần sau khi sinh, trong khi chờ làm chẩn đoán xác định. Đối với trẻ từ 0-6 tuần tuổi dùng siro Zidovudine. Hoặc phối hợp thuốc dành cho trẻ dưới 13 tuổi. 6/ Điều trị đặc hiệu HIV/AIDS: Được bắt đầu khi người bệnh có các nhiễm trùng cơ hội hoặc có số lượng lympho CD4

Similar Documents

Premium Essay

The Impact of Hiv&Aids, Tb, and Malaria in Africa

...The impact of HIV&AIDS, TB, and malaria in Africa Jack Saint Mary University Introduction Human immunodeficiency virus/acquired immunodeficiency syndrome (HIV/AIDS), tuberculosis (TB) and malaria, which are extremely serious diseases, kill millions of people every year. Most of the deaths are found in developing countries, especially in Africa. Vietor K. Barbiero (2006) reports that during 2005 alone, approximately 2.8 million people died from HIV/AIDS in Africa, half a million Africans is killed by TB, and close to 900,000 Africans are killed by malaria every year (p.6-7). Three of the most serious contagious diseases (HIV/AIDS, tuberculosis, and malaria) have significant impact on healthcare, economy, and education in Africa. HIV leads to AIDS. According to AVERing HIV&AIDS (2010), HIV is a kind of virus that damages immune system cells step by step. As a result, the body becomes weaker and weaker and becomes more susceptible to contagions. AIDS will evolve when HIV destroys the immune system enough (Para.3). AVERing HIV&AIDS also reports that AIDS is a “medical condition”. A person is believed to have AIDS when his or her immune system becomes too feeble to repel contagions (para.1). HIV/AIDS in Africa HIV/AIDS is one of the most serious diseases. It alone kills a huge amount of people every year in Africa. For example, Barbiero (2006) reports that although Africa has only 15 percent of the world’s population, 60 out of 100 infected people...

Words: 2145 - Pages: 9

Premium Essay

Hiv Mandatory Testing for Pregnant Women

...HIV Mandatory Testing for Pregnant Women HIV is an important issue among the world, and it has attracted a lot of people’s attention. Besides, it also bring a lot of problems to the society. Nowadays, many people debate that should pregnant women take HIV mandatory testing. It means whether or not every female should take HIV mandatory testing when they are pregnant, and it is forced for them. Many people support that because they think taking HIV mandatory testing can reduce the rate of HIV infection for newborn, and many people disagree that because they think that would be disrespectful behavior for female’s privacy. In the book “HIV Testing and Counselling in Prisons and Other Closed Settings: Technical Paper”, the author stated “WHO [] estimates that only about 10 percent of persons living with HIV in low- and middle-income countries know their HIV status (WHO/UNAIDS, 2007). In many of these countries, access to HIV testing remains limited. Many high-income countries also estimate that a significant number of people living with HIV are not aware of their HIV status (OSI, 2007)”. It means that fewer people know their HIV condition, and they have low recognition to care about HIV. In addition, most people do not pay much attention to HIV problems in the society, and it would be a large risk for newborn HIV transmission. Faced with this condition, people would like to take some actions to release this terrible condition, and they want to find some methods to solve this problem...

Words: 734 - Pages: 3

Premium Essay

Impact

...totally or nearly eradicated by our public health system. http://www.fairus.org/issue/illegal-immigration-and-public-health The migrations of the illegal immigrants also bring another big problem to our country that is dangerous diseases. As we know illegal immigrants come from rural areas and when they enter our boundaries they do not even go to the public or the private health department for a medical check-up. Diseases such as HIV, AIDS and TB are some of the disease brought by them. The health problem will enlarge because this illegal immigrant brings lot of health problem from their country. For instance the HIV, it refers to the smuggling of women for the purposes of forced prostitution and this will lead to HIV virus in other hand it will increase the total of fatality. Because of these diseases, entire citizens become afraid to be affected by those and some of them have been a victim of the diseases. Nowadays, more and more people are suffering from these diseases and this contributes towards the cases of death. http://www.scribd.com/doc/20796447/The-Effect-of-Illegal-Immigrants-in-Malaysia-FINAL-DRAFT#scribd Secondly, those illegal immigrants make our country overpopulation which is population growth that exceeds the carrying capacity of an area or environment...

Words: 426 - Pages: 2

Free Essay

Jealousy as a Killer Disease

...JORIND (9)1 June, 2011. ISSN 1596-8303. www.transcampus.org/journals. www.ajol.info/journals/jorind PSYCHO-CULTURAL VARIABLES PREDICTING ATTITUDE OF STUDENTS’ TOWARDS HIV COUNSELLING AND TESTING IN SELECTED TERTIARY INSTITUTIONS IN LAGOS STATE, NIGERIA. Olujide Adekeye, Augustine Ebiai and Sussan Olufunmilola Adeusi Department of Psychology, Covenant University, Ota, Nigeria E-mail: oadekeye@covenantuniversity.com, aebiai@yahoo.com, funmiswayas@yahoo.com Abstract The aim of the present study was to assess attitude of young people (n=287, mean=20.5 years) towards testing for HIV/AIDS. The participants completed a standard socio-demographic questionnaire, indicating sexual behaviour, cultural beliefs and practices, attitude to HCT, and knowledge of HIV/AIDS. Descriptive and inferential statistics at 0.05 alpha level were used to analyze the data. The study indicates that most participants have poor knowledge of HCT centres in their communities, but had a fairly high knowledge level of HIV. The findings of this study include that there is a significant difference in the disposition to HCT between respondents who have experienced sexual intercourse and those who have not (t = 3.866, df = 285: p<0.05) and between male and female respondents (t = 4.775, df = 285; p< 0.05). The study also shows that knowledge of HIV/AIDS was the strongest predictor of attitude of young people towards HCT ( = 0.547; t = 3.458 p<0.05), closely followed by cultural practices ( = 0.324; t = 2.740 p<0.05)...

Words: 4806 - Pages: 20

Premium Essay

Simulation

...HIV/AIDS IN LOUISIANA 2010 While the Federal government’s investment in treatment and research is helping people with HIV/AIDS live longer and more productive lives, HIV continues to spread at a staggering national rate. The latest incidence data from the Centers for Disease Control and Prevention (CDC) estimates nationally there were 48,100 new HIV infections in 2009. The graph below depicts the HIV/AIDS epidemic in Louisiana through 2010 according the Louisiana Department of Health and Hospitals. Note that the following HIV/AIDS statistics only represent a portion of the epidemic in the U.S.—those cases that have been both confirmed through testing and reported. Reported AIDS Casesi Number Currently Living with HIV (not AIDS) Number Currently Living with HIV/AIDS Number Currently Living with AIDS Cumulative AIDS Cases 25000 20,923 20,143 20000 18,308 17,387 16,277 15,323 15000 10000 8,684 7,593 9,379 10,035 8,273 8,008 5000 0 2007 2008 2009 2010 1 Last Updated: July 21, 2011 Demographic Trendsii The HIV/AIDS epidemic disproportionately affects those at risk from social factors such as disparity and discrimination. The following demographic numbers are from the Louisiana Department of Health and Hospitals as of December 31, 2010. PERSONS LIVING WITH HIV/AIDS BY GENDER, 2010 Female 30% Male 70% PERSONS LIVING WITH HIV/AIDS BY RACE / ETHNICITY, 2010 Black, Not Hispanic White, Not Hispanic ...

Words: 2678 - Pages: 11

Free Essay

Demograhpic

...population demographics, and the general impact that changing demographics may have on the health care market, why and how will changes in the demographics of this population affect health care. Furthermore, identify two key health care-related challenges with patients with AIDS, and describe how a chronic disease wellness programs may affect the cost for the demographic. And last, how can an individual patient in the community and society as whole address these challenges. The Center for Disease Control (CDC), has estimated that there are more than one million people living with HIV/AIDS in the United States (Center of Disease Control, 2011). AIDS arrived in the United States in 1969 through an infected immigrant from Haiti. In the 1970s and 1980s, there was an estimated one million or more people that were infected with AIDS and half million individuals had died from AIDS in the United States. HIV is a silent disease that can be undetected. CDC stated that roughly fifty thousand annual infections between 2006 and 2009 in the United States are infected with AIDS. The largest number of AIDS was among white men who have sex with men followed by African-American men. And Hispanic men and African-American women (Center of Disease Control, 2011). According to U.S. Department of Health & Human Services (2012), “Gay and bisexual men of all races are the most severely affected by AIDS. More than seventeen-thousand people with AIDS in the United States died in 2009 and more than 619...

Words: 1022 - Pages: 5

Premium Essay

Hiv Epidemiology Paper

...Epidemiology Paper: HIV Grand Canyon University: NRS-427V 08/09/2015 Human immunodeficiency virus, otherwise known as HIV, is a serious disease that affects the bodies’ immune system. HIV affects the immune cells, specifically called the CD4 cells or T cells. As time passes, these cells are destroyed and soon the body begins to lose its ability to fight off infections and disease. HIV is the virus that could lead to acquired immunodeficiency syndrome, or AIDS. Unfortunately, there is no cure for HIV, meaning once infected, you will remain infected for the rest of your life. The earliest HIV case was known to be in 1959. While it is unknown when exactly it came about, or from where, the transfer of the disease is thought to be from animal to human decades earlier. Some scientists believe that the chimpanzee transmitted the virus to humans, back when humans would hunt the chimpanzees for their meat. The contact with their HIV infected blood caused the spread of the communicable disease. After slowly spreading across Africa through the years, the virus made its way out into the world. “The first cases of HIV in the United States date back to 1981.” (Holland, 2013) The HIV infection is caused by the human immunodeficiency virus. There are many myths about how HIV is spread; the truth of how it is spread is simple, through blood, semen, vaginal/rectal fluids and breast milk. “These fluids must come in contact with a mucous membrane or damaged tissue or be directly injected...

Words: 1453 - Pages: 6

Premium Essay

The United Nations Millennium Development Goals

...equality and empower women, reduce child mortality, improve maternal health, combat HIV/AIDS, malaria and other diseases, ensure environmental sustainability, develop a global partnership for development are the eight goals developed by the members of UN (World Health Organization [WHO], 2012). The purpose of this paper is to give an overview about Millennium Development Goal 6 which is, Combat HIV/AIDS, Malaria and Other Diseases. Implication for Millennium Development Goals The eight Millennium Development Goals are a global agenda to improve the wellbeing of people around the world. The progress report on MDG issued in 2009, shows that policies and actions backed by adequate funding and strong political commitment can yield results. Death rate due to AIDS, have significantly reduced and many countries are implementing strategies to combat malaria and measles. There are many challenges still remaining due to the current economic status of several countries (Mattson, 2010) Millennium Development Goal 6: combat HIV/AIDS, Malaria and Other Diseases HIV/AIDS, Malaria and TB are major challenges of public health in the poorest countries of the world. Every 30 seconds, a child in Africa is dying due to Malaria. Many children who suffer from Malaria develop learning disabilities or brain damage ("End Poverty 2015 Millennium Campaign," n.d). Millennium Development Goal 6 which is, combat HIV/AIDS, Malaria and other diseases is interrelated with several other goals, such as...

Words: 1410 - Pages: 6

Free Essay

Ciricullum Vitae

...Lê Thị Ngọc Thúy Nick name: Thúy BéoHà Nội, Việt NamAges : 23Mobile: 093.2288.790 Skype & Yahoo: le_thuy37Email: lengocthuy37@gmail.comFacebook : facebook.com/lengocthuy0307“Tôi tự cho rằng mình là một người quân tử, biết lắng nghe, chủ động, nhiệt tình và đáng tin cậy”. | KỸ NĂNG & KHẢ NĂNG * Kỹ năng quản lý vấn đề * Kỹ năng chào hàng, telesales * Kỹ năng làm việc theo nhóm * Kỹ năng lập kế hoạch và báo cáo * Kỹ năng thuyết trình đàm phán * Kỹ năng quản lý sự kiện * Kỹ năng sử dụng tốt các phần mềm văn phòng * Kỹ năng bán hàng * Kỹ năng trình diễn vấn đề * Khả năng truyền cảm hứng * Khả năng sáng tạo/ creative thinking * Khả năng tư vấnKINH NGHIỆM1 - Công ty VTC Academy - Tư vấn tuyển sinh & marketing online ( Tầng 06 Toà nhà VTC Online, 18 Tam Trinh, Hà Nội, từ tháng 04/2013 – 10/2013) VTC Academy được thành lập vào năm 2010, với tầm nhìn là trở thành cơ sở đào tạo và nghiên cứu Công nghệ nội dung số hàng đầu tại Việt Nam. Chương trình đào tạo tại VTC Academy theo chuẩn quốc tế được hệ thống BTEC (Anh Quốc) chứng nhận. Hiện nay, VTC Academy đang đào tạo ngành học  “đón đầu” xu hướng phát triển trong lĩnh vực lập trình và thiết kếCông việc: * Tìm kiếm khách hàng, tìm hiểu về đối thủ cạnh tranh * Trực tiếp tư vấn tuyển sinh: Học viên tại văn phòng tuyển sinh, telesales, email và các hình thức online, sự kiện bên ngoài. * Sắp xếp, cập nhật thông tin học viên mỗi ngày vào hệ thống cơ sở dữ liệu * Hỗ trợ hoạt động marketing online...

Words: 1046 - Pages: 5

Premium Essay

Migration

...Dominicans in the USA are equivalent to 8% of their respective populations of origin (UNECLAC 2002: 237). And, in some of the mini states in the region like St. Kitts and Nevis, Grenada and Belize, annual labour migration accounts for as much as 12% of their population, thereby transferring their population growth (Mittelman 2000: 60). In addition, the loss of highly educated individuals from the Caribbean was due to the brain drain and the question of migration and remittances and if they could improve the standards of living for the individuals, their families and communities hence, aiding in the development of the region at large. The issue of migration and development has health and security risks associated with it for instance, HIV/AIDS and the increase in deportees into the Caribbean. Emigration in the Caribbean has occurred in two waves. The first wave occurred in the 1950s and 1960s in the Western economies during the post World War II which was a result of improved standards of living by finding full employment and lack of work in unskilled and semiskilled jobs. The second wave was due to the outcome of global economic restructuring and both economic and social decline in Caribbean countries. Emigration in the Caribbean led to the increasing need of domestic workers, teachers, nurses and doctors in Northern countries. There have also been political reasons for Caribbean migration as exemplified by the case of the Cuban Mariel boatlift in 1980 and the “rafters...

Words: 1783 - Pages: 8

Free Essay

Great West Casualty V. Estate of G. Witherspoon

...Uganda that provides HIV/AIDS services to persons living with the virus. The organization was founded by Noerine Kaleeba and fifteen volunteers who had little to no experience to support persons living with HIV/AIDS in 1987. TASO expanded its operation to four regional offices and 10 service centers in most parts of Uganda. In 2004 TASO came up with the initiative by offering antiretroviral therapy (ART) to most of its clients on first come, first serve basis. Although the organization overpowered with financial support from numerous NGO‘s and other organizations, in 2006 funds started depleting as a result of mismanagement which pose significant threat to its survival. Additionally, TASO assertion of it robust development and accomplishment in Uganda continues to be one of great success reflecting on how it initially started. The main issued identified from the case-TASO: The main issue identified in the case is whether TASO should remain focus on delivering counselling and support services only to people living with HIV/AIDS (PLWHA). Further elaboration is giving through the asking of the listed pertinent questions listed below to properly analyze the case: * What measures should Coutinho and his staff take to maintain their client-centered ethos while delivering services in a more cost-effective way? * TASO unarguable lacks the full capacity of human resources and financial resources to continue its humanitarian outreach for people living with HIV/AIDS in Uganda. Therefore...

Words: 1863 - Pages: 8

Free Essay

Black Coalition for Aids Prevention

...Analysis of recruitment issues and their impacts on the strategic issues The Black Coalition for AIDS Prevention (Black CAP) motto is "Because All Black People’s Lives Are Important", they aim at reducing the multiplication of HIV/AIDS infections within the Black communities in Toronto and improve the life of those affected by HIV/AIDS (Black Coalition for AIDS Prevention, 2014). Between 1999 and 2003 the number of Black people having AIDS increased by 80% (Remis 2006) and in 2003 about 12% of the population with HIV/AIDS in Toronto were black (Lawson et al. 2006). Black CAP seems to have a very dedicated workforce, however as Ryan noticed the present workforce was not enough and his workload was quite high. Ryan had about 75 volunteers at his disposal however studies have shown that more than 33% of the volunteers for a year will not be volunteering the next year as mentioned by Eisner et al. (2011, 2009). In 2013 the estimated worth of volunteer time was $22.55 per hour (National Value of Volunteer Time 2014), so instead of relying more and giving more responsibilities to paid workers Shannon could put more trust in his volunteers. Before the arrival of Ryan at Black CAP, the organization was short on staff, so his first initiative was to recruit more staff which was a good as these people were delivering on the funders’ requirements. Response to the funders meant that they will continue to donate. However with the introduction of new staffs Ryan workload increased as each...

Words: 2118 - Pages: 9

Free Essay

Assessment Tool Analysis

...Assessment Tool Analysis Dorcas NUR/440 March 26, 2012 Vicki Clithero Assessment Tool Analysis Assessment is an important aspect of nursing care; it is the first phase of the nursing process. Assessment involves gathering information or data about and related to the patient. Data collected include physiological, psychological, environmental, sociocultural, economical, spiritual, developmental history of the patient. Data may be objective or subjective. Objective data refer to the measurable and observable signs, e.g. the patient’s facial expression, gait, pulse rate, heart rate, blood pressure, color, warmth, etc. Subjective data are obtained from the patient; and they are the patient’s account of his or her feelings, needs, and strength. Data are obtained by physical examination and by interviewing the patient, family, friends, and other health care providers. Assessment tools are used during the assessment phase of the nursing process to identify areas of actual or potential problems that need further exploring; they are developed to pinpoint areas of health issues with the aim of promoting, improving, and maintaining the health of the individual. The three assessment tools chosen for this paper are: Social Support Questionnaire, Beck Depression Inventory, and Perceived Stress Scale. Social Support Questionnaire Social Support Questionnaire (SSQ) is an assessment tool that measures individual evaluation of social support that may be available to them in case...

Words: 1450 - Pages: 6

Premium Essay

International Hiv/Aids Alliance

...INTERNATIONAL HIV/AIDS ALLIANCE In 2009, 33 million people were living with HIV/AIDS. About 5 million of them had access to treatment (UNAIDS, 2010). The international HIV/AIDS alliance is a network of organizations throughout the world that is dedicated to combating the spread and the effects of HIV and AIDS. This work analyzes the issues faced by Alliance and addresses some strategic recommendation. The history, development, and growth of the organization over time The international HIV/AIDS Alliance was created in 1993. It is a result of discussions within a group of donor agencies and international organizations on how to give more support to community groups in developing countries that were carrying out work around HIV (Alliance, foundation, 2009). The Alliance has its head quarter (the international secretary) in Brighton, UK. Through its Linking Organization (LOs) the Alliance has been helping to reduce the spread of HIV/AIDS in Africa, Asia, the Caribbean, Eastern Europe and Latin America. There were about 32 LOs in 2009 throughout the world. These LOs are supporting 1270 community and NGOs across the globe. The alliance strategy in 2006 was to significantly scale up the universal access to comprehension HIV/AIDS services. By 2010 the Alliance had reached 2.3 million adults and children globally. A 75% growth compare to 2007. With an income of more than US$ 63 million in 2007, the alliance reached US$ 72.7 million in 2008 (a 12% increase).of these, 81% were restricted...

Words: 2940 - Pages: 12

Premium Essay

Nursing, an Integral Part of Health Promotion

...Running head: NURSING, AN INTEGRAL PART OF HEALTH PROMOTION Nursing, an Integral Part of Health Promotion Grand Canyon University: NRS 429V September 18, 2011 Nursing, an Integral Part of Health Promotion Introduction Everyone in this global society has rights. All humans are born free regardless of race, color or creed. Everyone is entitled to these freedoms. In the pursuit of these freedoms, health is encompassed under these dignities. Everyone on this planet has the right to be healthy. This paper will examine the nurses’ role in helping people attain these rights. What and Why of Health Promotion? According to the World Health Organization (WHO), health is defined as “a state of complete physical, social and mental well-being, and not merely the absence of disease or infirmity” (WHO, 1998, p. 1). Health promotion is the process of empowering people to expand control over, and to improve their health. Health promotion is an encompassing process- it is social, it is political, it is economical, it is ever-changing. It not only embodies measures focused on strengthening the skills and capabilities of individuals to attain their inalienable right to attain optimal health, but it is also directed towards changing global perspective as well. Health promotion is the process of enabling people to increase control over the factors of health, thereby improving their health (WHO, p. 1). Nursing Roles and Responsibilities Involvement is essential to sustain health promotion...

Words: 1113 - Pages: 5